Hiển thị các bài đăng có nhãn gallery. Hiển thị tất cả bài đăng
NSUT Thu Hà
|
Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011
|
0 comments
Giới thiệu và hướng dẫn sử dụng Google Buzz
Ngày 9/2/2010, Google chính thức cho ra mắt Google Buzz, một công cụ kết nối cực kỳ hiệu quả được tích hợp ngay trong hộp thư điện tử Gmail. Chắc hẳn là các bạn không còn xa lạ gì với các mạng xã hội như Facebook, Myspace hay “tiểu blog” Twitter, nhưng rất nhiều bạn còn lúng túng với Google Buzz, cũng giống như Google Wave trước đây. Trong bài viết này, tôi sẽ cố gắng giới thiệu, giải thích và đưa ra những hướng dẫn cơ bản trong việc làm quen và sử dụng công cụ mới này của Google, đồng thời sẽ cố gắng đưa ra những lời khuyên hữu ích nhất giúp các bạn bảo vệ được sự riêng tư của mình, nhưng vẫn phát huy được lợi thế tối đa trong việc kết nối với cộng đồng.
Google Buzz là gì?
Tùy chọn gửi thư điện tử kèm nội dung buzz (Email), liên kết tới buzz (Link to this post), Ẩn buzz (Mute this post) hoặc Xóa buzz (Delete this post)
Các tính năng quản lý người dùng

Khi một ai đó theo đuôi bạn, bạn sẽ nhận được thông báo như hình trên. Bạn có thể quyết định theo đuôi lại người đó (Follow back) hay chặn người đó, không cho phép họ theo đuôi mình.
Những người theo đuôi bạn (Follower) sẽ chỉ có thể thấy được những bài mà bạn muốn cho họ thấy. Để chặn những người mà bạn không muốn cho họ theo đuôi, hãy làm theo những bước sau:
Quản lý những người mà bạn muốn cho xem bài đăng
Rất đơn giản, mỗi lần bạn đăng một nội dung, ngay bên phải nút Post sẽ có lựa chọn cho phép chế độ riêng tư mà bạn muốn. Ở chế độ Public, mọi người theo đuôi bạn và những người kết nối tại Google Profile sẽ thấy những gì mà bạn đăng. Còn ở chế độ Private, chỉ những ai mà bạn cho phép mới thấy được những nội dung đó.
Chế độ chia sẻ công khai
Chế độ riêng tư

Chọn nhóm những người mà bạn muốn chia sẻ buzz
Chỉ những người trong nhóm mới thấy buzz của bạn
Hiển thị danh sách những người theo đuôi bạn trên trang Profile
Bạn có thể trả lời một comment, đánh dấu Like hay xóa comment (chỉ xóa được comment của chính bạn hoặc comment của người khác trong buzz của bạn)
Để chọn những ai sẽ thấy được buzz của bạn theo mặc định, bạn phải sử dụng công cụ quản lý mã nguồn, hãy click thẻ Buzz > Connected Sites, sau đó tìm trang mà bạn muốn thay đổi tính riêng tư, rồi ấn nút Edit, chọn mức riêng tư là Public hay Private và ấn Done. Bạn thậm chí có thể xóa bỏ hoàn toàn kết nối tới trang đó bằng cách click vào liên kết Remove site. Cuối cùng, ấn Save để lưu các thay đổi và đóng cửa sổ Connected sites.
Quản lý trang kết nối

Chọn trang muốn thay đổi chế độ riêng tư

Chọn chế độ riêng tư
Buzz trong hộp thư đến của bạn (Inbox)
Để chặn mọi tin nhắn tới Inbox của bạn, hãy xem tiếp mục dưới đây.
Lọc bỏ thông báo Buzz khỏi hộp thư đến của bạn
Bạn sẽ phải có một profile công cộng để có thể sử dụng Buzz. Lần đầu tiên đăng bài, bạn sẽ được dẫn tới quá trình cài đặt nhanh nếu bạn chưa từng tạo profile. Để tạo profile ngắn gọn nhất, bạn chỉ cần điền tên hiển thị trên profile, nhưng bạn có thể điền thêm các thông tin chi tiết khác nếu muốn.
Tìm kiếm buzzKhi bạn click vào thẻ Buzz trong Gmail settings, bạn sẽ thấy nút Search Buzz với tùy chọn tìm kiếm của Gmail, tùy chọn này cho phép bạn sử dụng các toán tử tìm kiếm như has:images, và chỉ tìm trong nội dung các buzz.
Bạn có thể sử dụng các toán tử tìm kiếm, chỉ việc thêm bất kỳ toán tử nào vào trong phép tìm kiếm:
Tắt tính năng Buzz
Nếu bạn không muốn sử dụng Google Buzz, bạn có thể tắt nó đi. Hãy thực hiện 2 bước như sau:
...
Google Buzz là gì?
Để sử dụng hiệu quả, trước hết bạn cần phải biết Google Buzz là gì. Google Buzz là cách mới để bạn thực hiện những cuộc trò chuyện về những thứ mà bạn thấy hứng thú, nó được tích hợp ngay trong Gmail và lợi dụng danh sách liên lạc từ tài khoản Gmail của bạn. Và trong trường hợp bạn không để ý, tôi có thể nhắc thêm rằng bạn thực sự có cả một mạng xã hội lớn bên dưới Gmail, giờ đây Google Buzz đang khai thác cái đó. Google Buzz giúp mang đến cho bạn một mạng lưới liên lạc bằng cách tự động kết nối bạn với những người mà bạn thường xuyên liên lạc hay gửi thư từ. Google Buzz cung cấp một cách dễ dàng để bạn có thể chia sẻ những nội dung phong phú được tích hợp kèm tranh ảnh, video, các liên kết,… rộng rãi với cộng đồng, hoặc bạn cũng có thể chia sẻ một cách riêng tư với những ai mà bạn muốn.
Google Buzz cũng có phiên bản cho điện thoại di động, nhưng nó không chỉ là một phiên bản cho các thiết bị màn hình nhỏ, mà nó còn được trang bị thêm một tính năng cực kỳ quan trọng trong việc chia sẻ nữa, đó là VỊ TRÍ. Các nội dung mà bạn chia sẻ sẽ được gắn thẻ định vị thông tin địa lý, điều này thực sự hữu ích, vì những thông tin này cho phép vẽ nên một bức trang cực kỳ phong phú về nơi mà bạn đã chia sẻ những nội dung trên Google Buzz, đặc biệt là khi kết hợp với các ứng dụng mạng trên di động và các lớp Buzz trên Google Earth. Hiện tại đã có phiên bản Google Buzz cho các HĐH Android 2.0+, BlackBerry, iPhone, còn dòng Nokia S60 và Windows Mobile thì sẽ ra mắt trong thời gian sắp tới. Đáng tiếc là hiện nay Google Buzz chưa hỗ trợ một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, nên tôi sẽ không đi sâu vào Google Buzz cho mobile.Cách sử dụng Google Buzz
Buzz giúp bạn chia sẻ những thông tin cập nhật, tranh ảnh, video, liên kết và rất nhiều thứ khác mà bạn muốn với những người trong danh sách liên lạc Gmail của bạn, đó cũng là cách để “theo đuôi” (follow) những người bạn khác. Khi bạn click Buzz trong Gmail, bạn sẽ nhìn thấy những nội dung của người mà bạn “theo đuôi” đã chia sẻ. Còn có một hộp khác để bạn đăng tải những thông tin cập nhật của mình. Dưới đây là những chức năng cơ bản của Google Buzz:
- Đăng tải các buzz: Click vào hộp văn bản cạnh tên của bạn và chia sẻ những gì bạn đang nghĩ.
- Comment: nếu bạn muốn gửi lời nhận xét hay trả lời về một thứ gì đó trong dòng hội thoại, chỉ cần click vào liên kết Comment dưới câu hội thoại đó, dòng nhận xét của bạn sẽ xuất hiện ngay bên cạnh và tác giả của câu hội thoại đó sẽ được thông báo.
- Like/Unlike: nếu bạn không có ý tưởng nào để trả lời, mà chỉ muốn thể hiện rằng mình thích một nội dung nào đó, hãy click vào Like, nó sẽ hiển thị một biểu tượng ngón tai cái chỉ lên, diễn rả rằng bạn đã thích nội dung đó. Nếu sau đó bạn không thích nội dung đó nữa, hãy click vào liên kết Unlike, và tên của bạn sẽ được gỡ đi.
- Trả lời bằng cách chat (tán gẫu): Click vào link đó nếu bạn muốn gửi một tin nhắn tán gẫu tới tác giả của nội dung mới đăng tải.
- Xóa các nhận xét: bạn có thể xóa các nhận xét của những người đã viết trên buzz của bạn, hoặc xóa các nhận xét mà bạn đã viết.
- @replies: Khi thêm ký hiệu @ vào trước tên của một ai đó, thì bạn sẽ buzz trực tiếp tới người đó, tức là buzz của bạn sẽ tự động được gửi đến inbox của họ. Bạn chỉ có thể sử dụng @replies với những người có trong danh sách liên lạc của bạn, khi đó những người theo đuôi bạn sẽ không thể nhìn thấy tên sử dụng Gmail của người mà bạn đã buzz.
- Mute: bạn có thể giữ yên lặng một buzz xuất hiện trong inbox của mình bằng cách cho phép sử dụng phím tắt và ấn phím “m” khi đang đọc nó. Việc giữ yên lặng sẽ khiến cho những cập nhật không còn xuất hiện trong inox của bạn mỗi khi người khác trả lời buzz của bạn nữa.
- Link to: Click vào nút mũi tên quay xuống ở bên phải của mỗi post và chọn Email, một tin nhắn Gmail mới sẽ mở ra với nội dung buzz ở tiêu đề và phần thân tin nhắn.
Tùy chọn gửi thư điện tử kèm nội dung buzz (Email), liên kết tới buzz (Link to this post), Ẩn buzz (Mute this post) hoặc Xóa buzz (Delete this post)
Các tính năng quản lý người dùng
Google Buzz cho phép bạn quản lý các bài đăng, người mà bạn theo đuôi (following) và những người theo đuôi bạn (follower). Dưới đây là toàn bộ các cách mà bạn có thể quản lý những bài đăng của mình. Một số cả các thiết đặt của thể được truy cập thông qua việc điều chỉnh Google profile.Quản lý danh sách những người đang theo đuôi bạn (Followers) Khi mới bắt đầu, Google Buzz sẽ tự động đưa ra cho bạn danh sách một số người mà bạn thường liên lạc để bạn có thể quyết định có theo đuôi họ hay không. Nếu bạn quyết định không theo đuôi một ai đó nữa (mà trước đây bạn đã từng theo đuôi), Google Buzz sẽ không thông báo cho người đó, nhưng sẽ có một thông báo cho bạn nếu ai đó bắt đầu theo đuôi bạn.

Khi một ai đó theo đuôi bạn, bạn sẽ nhận được thông báo như hình trên. Bạn có thể quyết định theo đuôi lại người đó (Follow back) hay chặn người đó, không cho phép họ theo đuôi mình.
Những người theo đuôi bạn (Follower) sẽ chỉ có thể thấy được những bài mà bạn muốn cho họ thấy. Để chặn những người mà bạn không muốn cho họ theo đuôi, hãy làm theo những bước sau:
- Click Buzz.
- Click vào dòng liên kết [#] followers nằm phía trên cùng của trang.
- Click vào tên của người mà bạn muốn chặn.
- Click nút Block màu vàng đậm ở gần đầu trang.
Quản lý những người mà bạn muốn cho xem bài đăng
Rất đơn giản, mỗi lần bạn đăng một nội dung, ngay bên phải nút Post sẽ có lựa chọn cho phép chế độ riêng tư mà bạn muốn. Ở chế độ Public, mọi người theo đuôi bạn và những người kết nối tại Google Profile sẽ thấy những gì mà bạn đăng. Còn ở chế độ Private, chỉ những ai mà bạn cho phép mới thấy được những nội dung đó.
Chế độ chia sẻ công khai
Chế độ riêng tư

Chọn nhóm những người mà bạn muốn chia sẻ buzz
Chỉ những người trong nhóm mới thấy buzz của bạn
Hiển thị danh sách những người theo đuôi bạn trên trang Profile
Khi bạn tạo Google Profile để sử dụng Google Buzz, có một hộp kiểm cho phép bạn hiển thị hoặc ẩn những người mà bạn đang theo đuôi và những người đang theo đuôi bạn trên Google Profile. Thậm chí khi bạn chọn kiểu cho phép hiển thị các danh sách này, chỉ những tên của các Google Profile mới hiển thị, còn những người theo đuôi bạn mà không có profile công cộng sẽ không hiển thị.
Để thay đổi các thiết đặt này:
- Vào trang chỉnh sửa profile.
- Thay đổi lựa chọn của bạn tại mục Display the list of people I'm following and people following me.
- Click nút Save changes.
Xem buzz của một người nhất định nào đó
Khi bạn vào thẻ Buzz, bạn sẽ thấy tất cả các buzz của những người mà bạn đang theo đuôi. Nếu bạn chỉ muốn xem các buzz của một người cụ thể nào đó, hãy click vào tên người đó. Ngoài những bài đăng của người này, bạn sẽ còn thấy cả danh sách những người đang theo đuôi người đó và những người được người đó theo đuôi. Khi đó, bạn có thể quyết định sẽ theo đuôi những người này, hay ngừng theo đuôi họ, hay chặn họ khỏi danh sách theo đuôi. Bạn sẽ còn nhìn thấy cả Google Profile bao gồm những thông tin cập nhật được họ công bố rộng rãi.
Biểu thị số lượng buzz chưa đọc
Khi bạn có buzz mới, bạn sẽ thấy bên cạnh thẻ Buzz trong tài khoản Gmail sẽ có một con số biểu thị số lượng buzz chưa đọc, tương tự như con số cho biết số email có trong Inbox vậy. Bạn có thể tìm thấy các buzz chưa đọc một cách dễ dàng bằng màu sắc: các buzz và trả lời mới sẽ có một thanh màu vàng ở phía bên trái.
Thanh màu vàng ở phía bên trái đánh dấu các buzz chưa đọc
Recommended buzz
Buzz được đề cử (hay được khuyên đọc) đến từ những người mà bạn đang không theo đuôi. Những bài đăng này hiển thị trong dòng cập nhật của bạn với một thẻ màu xanh lá cây bên cạnh tên của người đăng nếu những người khác trong mạng lưới buzz của bạn đánh dấu là họ thích chúng bằng cách ấn vào Like.Xóa các bài đăng và các trả lời
Bạn có thể chỉnh sửa và xóa các bài đăng riêng của mình, cũng như các bài trả lời trên bài đăng của bạn. Để chỉnh sửa hay xóa buzz riêng của mình, hãy sử dụng nút hình mũi tên quay xuống nằm ở phía bên phải và chọn Delete this post. Để xóa bỏ các trả lời, hãy chọn Remove some comments, bên cạnh mỗi bài trả lời, bạn sẽ thấy có những liên kết để xóa hay đánh dấu là spam. Để xóa bỏ trả lời của bạn trên các bài đăng của người khác, hãy ấn nút Edit.
Đăng một buzz bằng cách gửi email
Bạn có thể đăng tải lên Buzz bằng cách gửi thư điện tử tới địa chỉ buzz@gmail.com (bạn có thể chia sẻ tranh ảnh hay đoạn văn bản chữ theo cách này). Tuy nhiên, để có thể làm như vậy, bạn sẽ cầnphải gửi thư điện tử từ địa chỉ Gmail mà bạn muốn được kết nối tới bài đăng (tức là nếu bạn chọn cách đăng bài với profile A (Gmail), thì bạn không thể gửi thư điện tử bằng Yahoo! Mail hay tài khoản Gmail nhưng với profile B, tất nhiên!).Để chọn những ai sẽ thấy được buzz của bạn theo mặc định, bạn phải sử dụng công cụ quản lý mã nguồn, hãy click thẻ Buzz > Connected Sites, sau đó tìm trang mà bạn muốn thay đổi tính riêng tư, rồi ấn nút Edit, chọn mức riêng tư là Public hay Private và ấn Done. Bạn thậm chí có thể xóa bỏ hoàn toàn kết nối tới trang đó bằng cách click vào liên kết Remove site. Cuối cùng, ấn Save để lưu các thay đổi và đóng cửa sổ Connected sites.
Quản lý trang kết nối

Chọn trang muốn thay đổi chế độ riêng tư

Chọn chế độ riêng tư
Buzz trong hộp thư đến của bạn (Inbox)
Bạn có thể trả lời buzz ngay trong Inbox giống như trả lời một bức thư bình thường vậy. Mọi thay đổi của bạn (Edit) đều được áp dụng trực tiếp lên các trả lời và nhận xét mà bạn đã viết trước đóNếu bạn đăng một thứ gì đó, hay trả lời một bài đăng khác trên Buzz, thì những tin nhắn trả lời lại bài viết của bạn sẽ xuất hiện trong hộp thư đến. Bạn cũng thấy những tin nhắn trong hộp thư đến nếu như ai đó viết @[tên của bạn], đây là cách để gửi trực tiếp một nhận xét hay trả lời tới một người cụ thể nào đó. Cũng như email, các tin nhắn này đều chịu tác dụng của bộ lọc thư rác, như vậy bạn có thể quản lý được những gì muốn xem và những gì muốn chặn.![]()
Để chặn mọi tin nhắn tới Inbox của bạn, hãy xem tiếp mục dưới đây.
Lọc bỏ thông báo Buzz khỏi hộp thư đến của bạn
Bất kỳ một thông báo về buzz nào cũng đều tự động khớp với truy vấn Gmail label:buzz, vì thế tất cả những gì bạn cần làm là cài đặt công cụ lọc bỏ nhanh những tin nhắn này ra khỏi Inbox.Bạn có thể đọc Buzz của mình từ nhiều loại ứng dụng của Google. Bạn có thể truy cập nó bằng liên kết phía tay trái trong Gmail, từ Google Profile hay từ một thiết bị di động. Nếu bạn đang sử dụng điện thoại di động, hãy truy cập trang buzz.google.com bằng trình duyệt để xem các thiết bị di động được hỗ trợ.
Hãy thực hiện các bước như sau:
- Trong Gmail > Inbox, click vào link Create a filter nằm cạnh hộp Search.
- Trong hộp Has the words, hãy gõ label:buzz rồi ấn Next Step, sẽ có một hộp thoại xác nhận hiện ra, bạn ấn nút OK.
- Cuối cùng, bạn hãy đánh dấu tick vào hộp kiểm Skip the Inbox (Archive it) để chặn các buzz này vào Inbox, sau đó click vào nút Create Filter là xong.
Bạn sẽ phải có một profile công cộng để có thể sử dụng Buzz. Lần đầu tiên đăng bài, bạn sẽ được dẫn tới quá trình cài đặt nhanh nếu bạn chưa từng tạo profile. Để tạo profile ngắn gọn nhất, bạn chỉ cần điền tên hiển thị trên profile, nhưng bạn có thể điền thêm các thông tin chi tiết khác nếu muốn.
Tìm kiếm buzzKhi bạn click vào thẻ Buzz trong Gmail settings, bạn sẽ thấy nút Search Buzz với tùy chọn tìm kiếm của Gmail, tùy chọn này cho phép bạn sử dụng các toán tử tìm kiếm như has:images, và chỉ tìm trong nội dung các buzz.
Bạn có thể sử dụng các toán tử tìm kiếm, chỉ việc thêm bất kỳ toán tử nào vào trong phép tìm kiếm:
- is:buzz – Gõ toán tử này để tìm trong Inbox những bài đăng là email.
- has: [link/video/image] – tìm tất cả các bài đăng có chứa liên kết, video hay tranh ảnh.
- author: - tìm trong dòng hội thoại của bạn tất cả các bài đăng được viết bởi người mà bạn gõ tên.
- commenter: - tìm trong dòng hội thoại của bạn tất cả các bài đăng được trả lời hay nhận xét bởi người mà bạn gõ tên.
Tắt tính năng Buzz
Nếu bạn không muốn sử dụng Google Buzz, bạn có thể tắt nó đi. Hãy thực hiện 2 bước như sau:
- Xóa Google Profile. Nếu bạn không có Google Profile, hãy bỏ qua bước này.
- Click liên kết turn off buzz ở cuối trang trong Gmail, liên kết Buzz sẽ được gỡ khỏi tài khoản Gmail của bạn.
NSUT Thu Hà
|
Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010
|
0 comments
Nguyễn Thị Thu Hà- Tri thức bản địa.

Khái niệm tri thức bản địa hiện đã không còn xa lạ đối với rất nhiều nhà nghiên cứu nhân học, văn hoá, dân tộc học và đặc biệt đối với các chuyên gia phát triển.
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), một trong những thể chế kinh tế quyền lực nhất trên thế giới hiện nay thì Tri thức bản địa là tri thức địa phương, là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng đồng. Tri thức bản địa còn có cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương (World Bank, 1998)
Định nghĩa này chính thức được đưa ra trong một chương trình “Tri thức bản địa cho sự phát triển” tại châu Phi của World Bank vào năm 1998, coi tri thức bản địa như là một nguồn quan trọng trong việc làm tăng tính hiệu quả, năng lực và tính bền vững cho các chương trình phát triển (Gorjestani, 2000)
Ta sẽ tạm chưa xem xét đến tính hiệu quả của việc World Bank sử dụng tri thức bản địa của các tộc người trên thế giới trong các chương trình phát triển của nó mà chỉ mới quan tâm đến việc rõ ràng là vai trò và giá trị của tri thức bản địa là không thể phủ nhận và ngày càng được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Cùng với vị trí ngày càng cao của tri thức bản địa là sự tôn trọng được mang đến nhiều hơn cho cộng đồng các tộc người, chủ sở hữu của các tri thức này.
Tuy nhiên, trước khi tri thức bản địa đạt được vị trí trung tâm của các mối quan tâm như hiện nay nó cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn, được ủng hộ hoặc bị bác bỏ, được bao hàm hoặc được lề hoá ra khỏi các chương trình phát triển tại nhiều nơi trên thế giới. Nhưng thăng trầm đã và đang xảy ra đối với tri thức bản địa luôn được đặt trong mối tương quan với hệ thống tri thức khoa học của phương Tây và những tiêu chí được dùng để làm công việc phân biệt giữa hai loại hệ thống kiến thức này chính là vai trò và sự trao đổi của hai hệ thống tri thức này trong các chương trình phát triển trên toàn thế giới.
1. Tri thức bản địa và những đặc điểm chung Dù sử dụng tên gọi như: tri thức bản địa, tri thức kỹ thuật bản địa, sinh thái dân tộc học, tri thức địa phương, tri thức dân gian, tri thức truyền thống, tri thức truyền thống về môi trường, khoa học của dân hay tri thức của người nông thôn,... thì đối tượng mà người ta muốn nhắc đến là một hệ thống các tri thức đặc trưng của các cộng đồng người địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh. Các cách gọi này cũng thể hiện rõ ràng cách những người sử dụng tiếp cận vấn đề và đặt các vấn đề liên quan đến nó.
Dưới đây là một số các đặc điểm được thừa nhận chung tạm thời về tri thức bản địa theo Roy Ellen và Holly Harris trong phần Giới thiệu của cuốn sách “Tri thức bản địa về môi trường và những biến đổi” thay cho việc định nghĩa thế nào là tri thức bản địa vốn vẫn đang là một vấn đề bàn luận của các nhà nghiên cứu:
1. Tri thức bản địa mang tính địa phương, bắt nguồn từ một địa điểm cụ thể, là một tập hợp của các kinh nghiệm có được từ những con người sống tại địa điểm đó. Việc di chuyển những kiến thức này sang một địa điểm khác sẽ đưa đến nguy cơ làm biến đối các tri thức này.
2. Tri thức bản địa là những tri thức được truyền miệng, hoặc được chuyển giao thông qua các hình thức mô phỏng hoặc mô tả. Ghi chép lại những tri thức này bằng văn bản có thể làm thay đổi những thuộc tính đặc trưng của chúng. Ghi chép lại có thể làm cho các tri thức này dễ tiếp cận và lâu bền nhưng lại cũng làm biến đổi các tri thức này như trong trường hợp trên.
3. Tri thức bản địa là hệ quả của các gắn kết thực tế trong đời sống hàng ngày và liên tục được củng cố bằng các kinh nghiệm, các lần thử, các lỗi và các thử nghiệm cẩn trọng. Những trải nghiệm này là sản phẩm tiêu biểu của rất nhiều thế hệ. Những thất bại của các thử nghiệm này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người đang thực hành nó trong khi những thành công của các thử nghiệm này có thể được coi là công cụ đo lường tốt cho lý thuyết thích nghi của Darwin.
4. Tri thức bản địa có xu hướng là loại kiến thức mang tính thực tiễn và giả thuyết – kinh nghiệm hơn là mang tính lý thuyết theo nghĩa chính xác nhất. Ở một mức độ nào đó thì tính truyền miệng, phi văn bản, cũng như sự gắn kết của nó trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày và những hồi ức chứa đựng nó gây trở ngại cho những kiểu tổ chức cần thiết cho sự phát triển của loại tri thức mang tính lý thuyết suông.
5. Truyền thống là “một nhân tố hay thay đổi và làm biến đổi không hồi kết” khi được gắn với tri thức. Tri thức bản địa vì thế liên tục thay đổi, được tạo ra và tái tạo, được khám phá và bị mất đi mặc dù dường như nó thường được thể hiện như trong một trạng thái tĩnh.
6. Tri thức bản địa được chia sẻ ở một mức độ lớn hơn rất nhiều so với các loại tri thức khác, bao gồm cả tri thức khoa học. Đấy chính là lý do vì sao đôi khi nó còn được gọi là “tri thức của dân”, một cách gọi bắt nguồn từ chính thế hệ của nó trong đời sống sản xuất hàng ngày. Tuy nhiên, sự phân bố của tri thức bản địa vẫn mang tính phân đoạn, phân biệt về mặt xã hội. Nó thường được phân biệt đối xứng trong khuôn khổ một khu vực dân cư, ví dụ như theo giới hoặc tuổi hoặc được phân bố trong ký ức của từng cá nhân riêng biệt. Cũng có thể là có các chuyên gia thông qua các kinh nghiệm của họ, hoặc các nghi lễ hoặc quyền lực về mặt chính trị.
7. Mặc dù tri thức bản địa có thể tập trung vào các cá nhân và có thể được đạt đến bằng mức độ gắn kết với các nghi lễ hoặc các cấu trúc biểu tượng khác nhưng sự phân bố của nó luôn gián đoạn. Nó không tồn tại trong một thể tổng thể mà ở từng nơi và với từng cá nhân. Thực ra mà nói, tri thức bản địa không hẳn là được chuyển giao từ cá nhân đến cá nhân mà trong từng thực hành và trong từng giao tiếp xã hội trong đó, con người trao đổi với nhau.
8. Việc coi tri thức bản địa mang tính chỉnh thể hợp nhất trong khuôn khổ của các truyền thống văn hoá rộng lớn hơn, tách rời những vấn đề kỹ thuật với cái không mang tính kỹ thuật, lý tính với cái không lý tính là cần được xem xét lại. (Ellen, R, 2003: 4-5)
2. Tri thức bản địa và những bước thăng trầm
2.1. Tri thức bản địa bị lãng quên Như trên đã đề cập, hầu hết mọi người đều thừa nhận vai trò của tri thức bản địa như là một nhân tố then chốt trong mọi chương trình phát triển đã và đang được tiến hành, đặc biệt đối với những chương trình phát triển có mục tiêu là đạt tới sự bền vững. (Arun Agrawal. 2004)
Tuy nhiên, ngược trở lại bối cảnh thế giới giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, khái niệm “phát triển” theo từng giai đoạn biến đổi của nền kinh tế thế giới được bồi đắp dần lên với các nghĩa mới bổ sung. Bắt đầu từ giai đoạn phát triển tập trung chủ yếu vào việc khôi phục nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến, tiếp theo sau giai đoạn này là sự tăng trưởng đồng đều trên mọi lĩnh vực của cuộc sống nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và dần nâng cao chất lượng cuộc sống cho loài người. Chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn này như là một đại chủ nghĩa, siêu lý thuyết phủ bóng lên toàn thế giới. Các nhà phát triển đến từ các nước phương Tây, được trang bị bằng hệ thống khoa học và kiến thức của phương Tây đến các nước thứ ba nhằm “phát triển” các nước này và mở rộng công cuộc truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học. Trong công cuộc này, họ coi các nguồn kiến thức địa phương như là những trở ngại cần phải được vượt qua để có thể đạt tới mục tiêu của các công cuộc phát triển. Các nhà làm công tác phát triển coi truyền thống và các giá trị truyền thống của các tộc người trên thế giới như những gì yếu kém, lạc hậu, cần được huỷ bỏ hơn là được động viên để sử dụng. Tính hợp pháp của tri thức truyền thống bị nghi ngờ. Đặc biệt đối với những những chương trình phát triển theo mô hình “trên - dưới”[1]. Vấn đề của mô hình này là quá quan tâm đến các mục tiêu cụ thể, đến sự thành hay bại của chương trình hoặc chính sách dựa trên được đánh giá so với mục tiêu được đặt ra từ trên xuống lúc ban đầu và không bao giờ nhận ra hoặc cố tình lảng tránh vai trò của các nền tảng kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội của địa phương, nơi mà họ đang tiến hành áp dụng các mô hình phát triển của họ vào đó. Trong suốt một thời gian dài mấy chục năm đầu của thế kỷ 20, các mô hình phát triển được mang đi áp dụng thực hiện ở các nước thứ ba hoàn toàn dựa trên những kiến thức, những nghiên cứu được kiểm chứng qua các phòng thí nghiệm, các đơn vị nghiên cứu hoặc các trường đại học. Trong mô hình phát triển này, hạn chế lớn của nó đã được thừa nhận sau này là giả định về một mô hình hoàn hảo thích hợp cho mọi địa phương mà nó được tiến hành và bỏ qua vấn đề liên quan đến bối cảnh xã hội cụ thể của từng cộng đồng mô hình đang hướng tới. Những kinh nghiệm, hiểu biết của các tộc ngưòi bản địa ở các địa phương bị bỏ qua và đánh giá là không có giá trị sử dụng, hoặc không mang tính khoa học (phi khoa học), lạc hậu, không đáng được cân nhắc và xem xét trong rất nhiều các chương trình phát triển được mang từ các nước phương Tây sang các nước thứ ba. Hơn nữa, việc sử dụng một mô hình áp dụng cho mọi trường hợp đã dẫn đến sự thất bại của rất nhiều chương trình phát triển do không nhận được sự hợp tác và hỗ trợ từ phía địa phương. Các chuyên gia phát triển từ các nước phương Tây, được sự hẫu thuẫn về mặt kinh tế, chính trị và khoa học của chính quốc, họ cho rằng họ có một sứ mệnh cao cả trong việc làm thay đối bộ mặt của thế giới. Tuy nhiên, sau bao nhiêu năm thực hiện, thế giới vẫn đang nằm trong tình trạng đối trọng Nam - Bắc (Cực giàu - cực nghèo), tình trạng nghèo đói và kém phát triển vẫn đang tiếp diễn tại Tây Phi là một ví dụ điển hình cho sự thất bại của các tiếp cận này.
2.2. Tri thức bản địa lên ngôi Bắt đầu từ những năm 60-70 của thế kỷ 20, việc lề hoá tri thức bản địa và vai trò của các tộc người bản địa được xem xét lại. Mối quan tâm, thiện cảm dành cho những tri thức địa phương, tri thức truyền thống ngày càng nhiều lên theo một số nhân tố sau:
(1). Sự thất bại của các chính sách phát triển Một trong những lý do chủ yếu là do sự thất bại của các chính sách phát triển như đã nói ở trên. Các chuyên gia phát triển dần nhận ra rằng, các tộc người bản địa cùng với các sinh hoạt văn hoá, xã hội, kinh tế của mình đã và đang sống cuộc sống hài hoà và thân thiện với môi trường xung quanh. Trong khi đó, sự đổ vỡ của các tri thức khoa học phương Tây, các dự án hiện đại hoá mang tính khoa học công nghệ cao lại không mang đến những kết cục đáng mong đợi, xa rời thực tiễn của các địa phương và không có khả năng giải quyết nhiều vấn đề về mặt kỹ thuật đặt ra trong cuộc sống hàng ngày như những người dân bản địa có thể làm. Allen, R và Holly Harris gọi đó là “lý do lãng mạn” cho sự nổi lên của tri thức bản địa, cho rằng các dự án phát triển này là “những bài thơ hay” nhưng “khoa học dở” (Ellen, R, 2003: 13)
(2). Sự nổi lên của khái niệm “Phát triển bền vững” Quan niệm mới về phát triển, “Phát triển bền vững”, được thay thế hoàn toàn cho quan niệm phát triển truyền thống (phát triển kinh tế bằng mọi giá không quan tâm đến môi trường) khi nó nhấn mạnh đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến những thế hệ tiếp theo. Năm 1987, Uỷ ban Thế giới về môi trường và phát triển (WCED) cùng với tuyên ngôn về một “Tương lai chung của chúng ta” ra cảnh báo về sự suy thoái của môi trường do nghèo đói kể cả khi không có sự hiện diện của các ngành phát triển công nghiệp trên toàn thế giới. Tương lai ảm đạm của một thế giới trong tương lai được cảnh báo liên tục từ các tổ chức phi chính phủ, các nhà tương lai học và từ chính các quốc gia đang phải đối mặt với các nguy cơ này. Dần dần, các chuyên gia phát triển, những người hoạt động trong lĩnh vực môi trường, các tổ chức phi chính phủ nhận ra rằng những tri thức truyền thống, thế giới quan và văn hoá của các tộc người bản địa ẩn chứa mối quan hệ hài hoà thân thiện với môi trường. Các tộc người bản địa lúc này được xem như những nhà sinh thái học thực sự với những hiểu biết sâu sắc về môi trường, những quan niệm, niềm tin và cả các cách họ bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Trường hợp người Aru sống trên quần đảo Aru ở khu vực Đông Indonesia là một ví dụ tiêu biểu. Nguồn sống chủ yếu của tộc người này chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên xung quanh. Các hoạt động kinh tế của tộc người này chủ yếu phụ thuộc vào 2 loại gió mùa Đông và gió mùa Tây. Trong giai đoạn gió mùa Đông từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, người Aru chỉ tiến hành thu thập hải sâm ở các bãi thuỷ triều, bãi cát, đánh bắt cá hoặc làm việc và săn bắn trên đất liền. Đến đợt gió mùa Tây kéo dài từ tháng 11 đến tháng Tư hàng năm, người Aru tập trung vào việc thu hoạch hải sâm tại các dải đá ngầm, vụng nước sâu, lặn mò ngọc trai và thậm chí là săn bắt cá mập. Người Aru hiểu biết rất rõ về giá trị kinh tế và y học của hải sâm, nắm được các loại và đặc điểm của nhiều loại hải sâm khác nhau, thời điểm thích hợp và địa điểm thích hợp để đánh bắt các loại hải sâm này trong một năm. Họ biết rằng, yếu tố mùa và thuỷ triều là hai nhân tố then chốt quyết định số lượng hải sâm người Aru có thể thu hoạch được trong mỗi lần đi. Người Aru lưu giữ cho mình những hiểu biết sâu sắc về hải sâm và các cách thức để thu hoạch hải sâm được hiệu quả nhất.
Cả nam và nữ người Aru đều tham gia vào công việc thu lượm hải sâm. Đàn ông thì lặn lúc mùa gió mùa Tây, thu lượm hải sâm bằng cách đi bộ và lội trong suốt mùa gió mùa Đông. Phụ nữ thì đi tìm trên các bãi thuỷ triều và các dãy san hô vào ban ngày mùa gió mùa Tây, vào buổi tối mùa gió mùa Đông. Đôi khi phụ nữ cũng đi cùng với đàn ông, sử dụng đèn điện và đèn chạy bằng ga. Kiến thức về các loại hải sâm và địa điểm khác nhau theo giới tính và kinh nghiệm có liên quan. Phụ nữ thường chỉ tìm kiếm ở các bãi thuỷ triều và chỉ tìm 4 loại: sem putih và matahui vào mùa gió Đông lúc buổi tối còn vào mùa gió Tây thì họ thu lượm hải sâm đen và đỏ các loại, sem hitam và sem merah. Thợ lặn nam thì tìm 3 loại còn lại trong năm cùng với một số loại khác thường chỉ có ở vùng nước sâu. Mỗi loại hải sâm khác nhau thường chỉ xuất hiện ở từng vùng khác nhau phụ thuộc vào từng vùng biển. (Osseweijer, 2003: 64-65)
Người Aru còn có một hình thức nhằm hạn chế việc thu hoạch thái quá tài nguyên biển truyền thống, gọi là sir hoặc sasi. Đây là một nghi lễ mang tính cấm đoán và được thực hành bởi một làng hoặc các nhóm làng chung nhau trong cùng tộc người. Khi sir/sasi được tiến hành có nghĩa là trong vòng ba đến năm năm, không ai được quyền khai thác tài nguyên biển trên một vùng biển quy định nhất định. Sau khi kết thúc quãng thời gian này, các bãi và vụng biển được mở cửa trở lại và mọi người lại có thể tiếp tục khai thác. Từ xa xưa trong lịch sử tộc người Aru, nghi lễ này chính là một hình thức quản lý tài nguyên biển hiệu quả.
Nhưng đồng thời, trong rất nhiều trường hợp, những thực hành và quan niệm truyền thống của họ về môi trường lại chính là nguyên nhân phần nào dẫn đến sự suy thoái của các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Cũng trong trường hợp của người Aru, thu hoạch hải sâm và đánh bắt các tài nguyên biển là một nguồn thu nhập chính của họ. Tuy nhiên, ngay từ rất sớm việc thu hoạch hải sâm của người Aru ngoài nhu cầu thức ăn còn bị chi phối bởi nhu cầu trao đổi, buôn bán hàng hoá với những thương nhân, những người buôn bán nhỏ người Indonesia và Trung Quốc. Những người này trải qua quá trình trao đổi buôn bán với người Aru đã dần định cư tại vùng này và làm công việc buôn bán các sản vật biển thu được bởi người Aru và đổi lại bằng hàng hoá tiêu dùng. Việc trao đổi hải sâm và các sản vật biển lấy hàng hoá dần khiến người Aru bị lệ thuộc và bị “chèn ép” bởi các thương nhân này. Vào giai đoạn năm 1995-1996, giá thành của trai và tảo biển hạ khiến các thương nhân này khuyến khích người Aru đánh bắt nhiều hơn một loại hải sâm như người Aru vẫn thường làm và đánh bắt hải sâm quanh năm không tuân theo mùa gió mùa như trước nữa. Giá của hải sâm tăng lên kéo theo đó là sự tập trung khai thác quanh năm đến cạn kiệt nguồn tài nguyên của người Aru. Bên cạnh đó, một lý do khác liên quan đến việc cạn kiệt nguồn hải sâm là do tập quán khai thác hải sâm trên một địa điểm đến khi nó hoàn toàn cạn kiệt. Điều này trên thực tế sẽ mang lại nguy cơ suy giảm đáng kể số lượng hải sâm trong một loài.
Người Aru vì thế vẫn thu lượm hải sâm bằng cách di đến các dãy đá ngầm nơi mà ngày trước hoặc đêm trước đó một số người đã thu hoạch được kha khá. Và vì thế, mọi người thường quay trở lại cùng một địa điểm liên tục trong một tuần liền cho đến khi họ trở về tay không (Osseweijer, 2003: 63)
Người Aru không hẳn là không nhận ra rằng chính họ đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, việc ít thực hành hoặc cố tình không tuân theo nghi lễ sasi/sir khiến cho sự suy giảm tài nguyên biển ở khu vực đảo này vẫn tiếp tục tiếp diễn.
Có thể thấy, những lợi ích và hạn chế rõ ràng của tri thức bản địa về môi trường của các tộc người bản địa trên thế giới đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược phát triển của các quốc gia đã khiến cho vai trò của nó và tiếng nói của những tộc người bản địa ngày càng thu hút nhiều chú ý từ cộng đồng thế giới.
(3). “Tri thức bản địa cho phát triển” của Ngân hàng Thế giới Sự quan tâm của Ngân hàng thế giới (World Bank) như là một thể chế kinh tế quyền lực toàn cầu đối với tri thức bản địa (tri thức bản địa về môi trường) vừa là hệ quả của hai bối cảnh trên nhưng đồng thời, nó củng cố và mở rộng phạm vi quan tâm của toàn thế giới đối với tri thức bản địa. Năm 1998, Ngân hàng Thế giới thiết lập chương trình Tri thức bản địa cho sự phát triển. Chương trình này có mục đích học tập từ các hệ thống tri thức địa phương phục vụ cho các thực hành phát triển tại các cộng đồng đó và từ đó, mở rộng tính ứng dụng của các tri thức này. Ngân hàng Thế giới tuyên bố rằng họ cần trao cho những người nghèo trên thế giới cái quyền không chỉ là người tiếp nhận các tri thức khoa học phát triển mà họ phải là những người đóng góp, những người đóng vai trò chủ đạo trong phát triển của chính họ. James D. Wolfensohn, Chủ tịch của Ngân hàng thế giới cho rằng: “Tri thức bản địa là một phần không thể thiếu trong văn hoá và lịch sử của một cộng đồng địa phương. Chúng ta cần thiết phải học hỏi từ các cộng đồng địa phương để có thể thúc đẩy quá trình phát triển” (Gorjestani, 2000:1). Chương trình này được tiến hành tập trung tại các nước châu Phi nhằm mục đích giảm tỉ lệ đói nghèo và hướng tới các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Ngân hàng Thế giới đề ra.
Tuy nhiên, dù muốn dù không, chúng ta cũng phải thừa nhận vai trò của Ngân hàng Thế giới trong việc truyền bá sự tồn tại và giá trị của các tri thức bản địa đi toàn thế giới. Còn phê phán, bình luận về cách sử dụng và đánh giá tri thức bản địa của tổ chức này lại nằm trong phạm vi của vấn đề thảo luận khác.
(4). Những thay đổi về nhận thức luận và phương pháp luận trong một số ngành nghiên cứu cũng được tính là một trong những nhân tố làm thay đổi vị thế của tri thức bản địa trên toàn thế giới. Trong nghiên cứu phát triển, mô hình mới cho sự phát triển như “từ dưới lên” hay “nông dân là đầu tiên”, “phát triển tham dự” thay thế cho mô hình “trên-dưới” đã đang chứng tỏ được tính hiệu quả của nó trong các chương trình phát triển áp dụng ở các nước nghèo và đang phát triển. Những mô hình nghiên cứu mới này đòi hỏi phải có những hiểu biết thấu đáo về bối cảnh của nơi tiến hành các chương trình/dự án phát triển, đặc biệt là hệ tri thức truyền thống, văn hoá tộc người, thực hành phong tục truyền thống của các cộng đồng địa phương. Đòi hỏi này thúc đẩy một loạt các nghiên cứu về tri thức bản địa được tiến hành kỹ lưỡng nhằm phục vụ cho mục đích phát triển của các chương trình phát triển. Hay như trong nghiên cứu nhân học, sự phổ biến của thuyết vạn vật hữu linh với hạt nhân là tính liên chủ thể, trong đó, mọi vật trên thế giới này đều có linh hồn và được đối xử ngang nhau: con người, ngọn cỏ, hòn đá, cái cây,... (Bùi Quang Thắng, 2007). Lý thuyết này đặc biệt thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhân học, đặc biệt là các nhà nhân học sinh thái. Tri thức bản địa của các tộc người bản địa trở thành những vấn đề nghiên cứu hấp dẫn trong lĩnh vực này.
2.3. Tri thức bản địa - những vấn đề nghiên cứu hiện nay Trong giai đoạn thống trị của chủ nghĩa phát triển, hệ thống khoa học kỹ thuật phương Tây được coi là kim chỉ nam, là phương tiện duy nhất có thể giúp các nước thứ ba đạt tới sự phát triển. Tri thức khoa học phương Tây được coi là siêu việt và cần được truyền bá trên toàn cầu. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, sự thất bại của chủ nghĩa này ở nhiều trường hợp đã khiến nhiều người nghi ngờ về quyền năng của hệ tri thức này như nó đã từng được thừa nhận trong giai đoạn hoàng kim.
Khoa học phương Tây cũng chỉ nên được xem như một loại tri thức bản địa hoặc địa phương, loại tri thức được này sinh trong môi trường thiết chế phương Tây và đã được lan truyền rộng rãi khắp thế giới nhờ vào sự thiết lập của các mối quan hệ quyền lực mang tính thực dân và thực dân mới. Vì vậy sự thống trị của tri thức phương Tây không phải là do nó đạt gần tới một sự thật tối cao nào, mà vì một loạt các điều kiện địa-lịch sử gắn với yếu tố địa-chính trị của quyền lực (Escobar, 1995) (John Briggs, 2004: 3)
Tuy nhiên, ngay cả khi được đánh giá lại, được thừa nhận giá trị và vai trò của mình, tri thức bản địa vẫn đang được coi là một vấn đề nghiên cứu gây nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học trong các trường phái nghiên cứu khác nhau.
Có nhiều phê phán từ các nhà lý nghiên cứu nhân học sinh thái, các nhà lý thuyết đối với cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới đối với tri thức bản địa. John Briggs và Joanne Sharp trong “Tri thức bản địa và sự phát triển - Một sự cẩn trọng hậu thuộc địa” về việc Ngân hàng thế giới quan tâm đến tri thức bản địa chỉ như là những tri thức liên quan đến các vấn đề kỹ thuật thuần tuý mà bỏ qua những vấn đề liên quan đến nó như là quan niệm sống, nhận thức luận, thế giới quan của các tộc người bản địa.
Những người làm các dự án phát triển thường quan tâm đến tri thức bản địa dưới góc độ kỹ thuật hay là góc độ của đồ vật tạo tác phải bảo tồn, hơn là nền tảng cơ bản hay lý luận của nó. Họ thường chú ý đến các vấn đề kỹ thuật liên quan đến canh tác, ví dụ như các phương pháp quản lý đất bản địa, bảo vệ nguồn nước và sử dụng cây thuốc. Tuy nhiên, ít thấy có những quan tâm về các tri thức nằm ẩn dưới các kiến thức bản địa về môi trường và kỹ thuật đó. (John Briggs, 2004: 7)
Cũng vẫn trong ví dụ về người Aru ở Đông Indonesia, những gì được coi là tri thức của tộc người này không chỉ đơn thuần là các kinh nghiệm, các thực hành mang tính kỹ thuật trong việc thu hoạch hải sâm của họ. Hiểu biết của người Aru về các loại hải sâm, tính năng và giá trị của từng loài, về cách tính con nước, thuỷ triều sao cho thu hoạch được nhiều hải sâm, cách chế biến và bảo quản hải sâm sao cho nó mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất không phải là tất cả những gì ta cho là tri thức bản địa của tộc người Aru. Mối quan hệ xã hội của người Aru và những thương nhân người Trung Quốc- Indonesia, phương thức trao đổi hàng hoá- sản vật biển giữa họ cũng cần được xem xét khi nghiên cứu về tri thức bản địa của tộc người này để có thể hiểu rõ hơn về lý do tại sao có sự thay đổi trong việc thu hoạch đến cạn kiệt hải sâm. Đặc biệt hơn nữa, quan niệm của người Aru ẩn chứa sau những hiểu biết kỹ thuật đơn thuần của họ về hải sâm chính là yếu tố quy định các hành vi của người Aru. Người Aru có truyền thuyết về nguồn gốc của tộc người Aru và nguồn gốc của các sinh vật biển[2]. Họ tin rằng dưới Chúa, Đấng sáng tạo là các vị thần Biển (Tai Dugai), là những vị thần hộ mệnh canh giữ tài nguyên biển. Và mỗi loại tài nguyên biển thì có vị thần bảo hộ riêng của loài đó, quyết định việc có cho con người tiếp cận nguồn tài nguyên này không. Người Aru tin rằng, nếu họ biết tôn trọng tài nguyên biển, tiến hành các hành vi thu hoạch theo các cách thức phù hợp với lễ nghi nhằm làm hài lòng các vị thần, chỉ khi ấy họ mới có thể có được các vụ thu hoạch bội thu.
Trong buổi lễ họ dùng các tên gọi - ngay cả tên của các nhà Tiên tri trong Kinh thánh - để đưa ra yêu cầu của họ; hoặc họ có thể sử dụng những tên bí mật của những vị tổ tiên đã từng đến một bãi thuỷ triều nào đó. Biết tên huý của một vị tổ tiên mang đến cho họ quyền để hỏi xin hải sâm hoặc các nguồn tài nguyên biển khác, điều mà tổ tiên có lẽ tái hiện từ một thế giới linh thiêng bí ẩn khác. Sau lễ hiến tế người ta phải tìm kiếm hải sâm một cách yên lặng, không nói quá nhiều hoặc quá to, không cười hoặc kêu. Những vấn đề như tình yêu đôi lứa không được phép mang ra thảo luận và sự vi phạm đến sự linh thiêng tệ hại nhất là có quan hệ tình dục trên các bãi thuỷ triều hoặc trên thuyền. Hơn nữa, họ cũng không được quá tham lam hay quá đố kị trong quá trình thu thập hải sâm (Osseweijer, 2003: 68)
Người Aru có những giải thích của riêng họ cho việc không gặp may mắn trong việc đánh bắt hải sâm. Đấy là do họ bị tổ tiên phạt vì đã không biết cách cư xử hoặc vi phạm vào các phép tắc được cho là do tổ tiên/các vị thần biển đặt ra.
Đồng thời cùng lúc với thế giới quan này, người Aru cũng hiểu khá rõ một thực tế là họ đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là hải sâm do thu hoạch thái quá. Tuy nhiên, một lần nữa, các thực hành đánh bắt hải sâm của người Aru lại bị chi phối bởi một niềm tin tuyệt đối rằng nguồn tài nguyên (hải sâm) này không bao giờ biến mất mà chỉ đơn giản là được di chuyển đi nơi khác bởi các vị thần biển/thần bảo hộ/tổ tiên của họ. Lý do của việc di dời này là do con người không biết cách cư xử cho đúng lễ nghi. Một khi họ làm được điều này, tài nguyên biển sẽ trở lại.
Tổ tiên của biển là những người canh giữ các nguồn lợi biển, vì thế họ có quyền quyết định tạm thời chuyển nguồn hải sâm đi nơi khác như trong trường hợp kiện tụng với vùng láng giềng Karey. Nếu tổ tiên không muốn cho anh hải sâm, điều này có nghĩa là anh không gặp may. Hải sâm đang dần ít đi vì tổ tiên chúng ta đã quá thất vọng về cách hành xử của chúng ta (Osseweijer, 2003: 73)
Hơn thế nữa, cái cách Ngân hàng thế giới tìm hiểu, thu thập và sử dụng các tri thức bản địa vẫn nằm trong phạm vi so sánh và đối chiếu điểm mạnh yếu của nó với khoa học chính thống phương Tây.
Cần thiết phải ghi nhớ rằng không phải tất cả các tri thức bản địa là có lợi cho sự phát triển bền vững của một cộng đồng địa phương; và cũng không phải là tất cả các loại tri thức bản địa được cho rằng có ưu thế trong việc cung cấp giải pháp thích hợp cho một vấn đề. Một ví dụ khá tiêu biểu là việc đốt nương làm rẫy trong nông nghiệp hoặc thực hành cắt âm vật của phụ nữ. Vì thế, trước khi áp dụng và gắn liền tri thức bản địa vào các chương trình phát triển hoặc thậm chí cả việc truyền bá chúng cần xem xét đến tính thích hơp của chúng giống như các loại khoa học kỹ thuật khác. Ngoài các xác nhận về mặt khoa học, những nền tảng về văn hoá-xã hội, các bằng chứng địa phương trong đó các thực hành được gắn kết cũng cần phải được xem xét trong một quá trình kiểm chứng. (World Bank, 1998:6)
Ngân hàng Thế giới cũng khuyên rằng, các cộng đồng địa phương có thể thay đổi các thực hành mang tính bản địa tạo ra các ngáng trở đối với chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.
John Briggs và Joanne Sharp cho rằng, thực ra mà nói thì Ngân hàng Thế giới vẫn đang nhìn nhận tri thức bản địa dưới con mắt suy xét của người tin rằng, khoa học chính thống phương Tây có quyền thế trong việc quyết định các tri thức khác tri thức phương Tây có thể được sử dụng hay không sử dụng. Đây là một sự trao đổi đơn tuyến. Tri thức bản địa và tộc người bản địa được trao quyền để nói và tham gia, nhưng với điều kiện được sự kiểm chứng và xác nhận của các nhà khoa học phương Tây. Tri thức bản địa sẽ được sử dụng chỉ khi nào nó được chứng minh một cách rõ ràng là phù hợp với mục tiêu phát triển của các chương trình của Ngân hàng thế giới. Như vậy thì có hay không có sự thừa nhận khách quan và chân thực về vai trò thực sự của tri thức bản địa trong cách đánh giá của Ngân hàng thế giới hướng tới mục tiêu của sự phát triển bền vững.
Một tranh luận khác liên quan đến việc sử dụng thay thế nhau giữa hai thuật ngữ “tri thức bản địa” và “tri thức địa phương”. Như trong phần đầu của bài viết này, Ellen, R và Harris, H đã liệt kê ra một loạt các đặc điểm chung đã và đang được thừa nhận rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới, trong đó, đặc điểm đầu tiên cho rằng tri thức bản địa là tri thức địa phương. Tuy nhiên, theo Manon Osseweijer thì tri thức địa phương không nên được đồng nghĩa hoặc sử dụng thay thế cho tri thức bản địa. Thay vì thế, nên xem xét đến vấn đề trao đổi giữa tri thức bản địa và tri thức ngoại sinh (Osseweijer, 2003: 55). Như trong trường hợp thực hành đánh bắt hải sâm ở của người Aru trên quần đảo Aru, phía Đông Indonesia. Những tri thức liên quan đến việc đánh bắt hải sâm ở quần đảo này không chỉ là của riêng và vốn có của người Aru, người bản địa mà nó còn được bồi đắp bởi những hiểu biết của những thương nhân người Trung Quốc-Indonesia, là những người đã sinh sống và buôn bán ở vùng đảo này từ lâu đời. Tri thức này nên được gọi là tri thức địa phương, có sự kết hợp của cả hai loại tri thức: kiến thức truyền thống của người bản địa Aru về hải sâm, về vụ mùa, con nước, kỹ thuật đánh bắt, tổ tiển, về các thực hành tín ngưỡng và tri thức ngoại sinh đến từ các thương nhân Trung Quốc – Indonesia về loài, giá trị dinh dưỡng, cách chế biến, cách tiêu thụ hải sâm. Hai loại kiến thức này trao đổi, bổ sung và làm lợi cho nhau và trở thành một thứ tri thức địa phương có vai trò quan trọng là tiền đề cần thiết cho hoạt động kinh tế (đánh bắt và buôn bán hải sâm) và cho cả việc quản lý, bảo tồn tài nguyên biển một cách có hiệu quả tại vùng đảo này.
Tri thức bản địa của người Aru vì thế cần thiết được liên kết với tri thức ngoại sinh của những thương nhân người Indonesia-Trung Quốc, là bởi vì đời sống của họ đã từ lâu nằm trong một mối liên kết vùng miền của hệ thống giao thương quốc tế. Người Aru học từ các thương nhân cách chế biến hải sâm để bán ra thị trường, loại nào thị trường cần, và giá cả của nó. Khi thương nhân yêu cầu một loại hải sâm mới mà họ biết đến theo nguồn thông tin và hiểu biết của riêng họ, dân làng Aru sẽ đặc biệt tìm loại này và thông báo cho thương nhân địa điểm có thể tìm thấy chúng. Một vài người Aru cho biết rằng, đôi khi họ đơn giản là tìm kiếm theo nhu cầu của những người chủ cửa hiệu Indonesia-Trung Quốc. Vì thế nên khi một nguồn nào đó bị cạn kiệt hoặc giá của nó giảm mạnh (như giá của tảo biển vào đầu những năm 1990), họ đơn giản là sẽ tìm kiếm một nguồn khai thác khác được chỉ định bởi các thương nhân. (Osseweijer, 2003 :70)
3. Thay kết Nghiên cứu về tri thức bản địa, hay cụ thể hơn, tri thức bản địa về môi trường là một ngành nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần thiết phải có sự quan tâm đặc biệt đến ngành này tại nước ta, thứ nhất là do Việt Nam vẫn đang được coi là một nước đang phát triển với phần lớn đại bộ phận dân cư sống tại các vùng nông thôn, miền núi cần được nâng cao chất lượng cuộc sống; thứ hai, Việt Nam là nước có đến gần sáu chục dân tộc thiểu số đồng nghĩa với việc có gần sáu chục hệ tri thức bản địa cần được nghiên cứu; thứ ba, một loạt các chính sách phát triển của chính phủ Việt Nam và sự hỗ trợ, đầu tư của các quốc gia trên thế giới vẫn đang bất lực trong việc đạt tới mục tiêu phát triển ổn định và cân bằng tiến tới bền vững cần được tìm hiểu.
Nguyễn Thị Thu Hà biên soạn
NSUT Thu Hà
|
Thứ Năm, 23 tháng 12, 2010
|
0 comments
Những màn nhảy múa trên lửa đỏ, than hồng
Sau mỗi mùa gặt bội thu dịp cuối năm, các chàng trai người dân tộc Phà Thẻn (một trong số dân tộc ít người nhất ở tỉnh Hà Giang và ở Việt Nam) lại cùng dân bản mở hội nhảy lửa mừng cơm mới.

Lửa đỏ đã sẵn sàng

Thầy cúng làm lễ trước khi các chàng trai vào nhảy lửa.











Những vũ điệu của lửa...

Nằm lên đống than.
...
Đây là một trong những lễ hội độc nhất vô nhị ở miền núi biên giới phía Bắc nước ta được bà con dân tộc Phà Thẻn sinh sống tập trung ở huyện Bắc Quang, Quang Bình (tỉnh Hà Giang) gìn giữ, bảo tồn để phục vụ đời sống văn hoá tâm linh của cộng đồng người Phà Thẻn.
Chỉ có các chàng trai người Phà Thẻn qua một giai đoạn luyện tập theo phương pháp đặc biệt mang tính cổ truyền và với rất nhiều nét huyền bí, hoang dã trong một thời gian nhất định theo hướng dẫn của thầy mo, mới có thể trực tiếp đi chân trần nhảy múa trên lửa đỏ mà vẫn bình an vô sự.
Trước khi nhảy vào đống củi lửa cháy rừng rực, các chàng trai Phà Thẻn phải cùng thầy mo, thường là những thầy mo cao tay của bản, thực hiện lễ nghi cúng thần nước và thần lửa từ hai đến bốn giờ liên tục. Chỉ đến khi hai vị thần kể trên “đồng ý”, họ mới được phép nhảy vào lửa để múa với cường độ từ động tác đơn giản đến phức tạp hơn.
Đặc biệt là các “vũ công” trong lễ hội nhảy lửa của người Phà Thẻn rất thích ăn than, vì thế trước và sau khi nhảy họ thường bốc ngay những hòn than đang cháy đỏ cho vào miệng ăn ngon lành.
Lễ vật cúng lễ hội nhảy lửa của người Phà Thẻn rất đơn sơ, gồm một bát hương nhỏ, một con gà luộc, 10 chén rượu trắng, những thanh củi gỗ rừng để đốt thành than hồng. Nếu bày nhiều rượu thịt thì thần linh sẽ không cho phép nhảy vào lửa. Phụ nữ và trẻ em trai ít tuổi chỉ được phép làm cổ động viên, không được trực tiếp tham gia nhảy vào than lửa...
Mời bạn đọc cùng xem chùm ảnh các chàng trai dân tộc Phà Thẻn ở xã Tân Lập, huyện Bắc Quang vô tư nhảy múa trên lửa đỏ, than hồng trong lễ hội nhảy lửa truyền thống độc đáo này.

Lửa đỏ đã sẵn sàng

Thầy cúng làm lễ trước khi các chàng trai vào nhảy lửa.











Những vũ điệu của lửa...

Nằm lên đống than.
Ngọc Triển - Ngọc Bằng
Theo Dantri
Theo Dantri
NSUT Thu Hà
|
|
0 comments
Thời gian để yêu...
Đêm Trung Thu, tôi đã thưởng cho mình bằng cách mua vé nghe nhạc Đỗ Bảo, tránh xa đám đông ồn ào và nhộn nhịp ngoài đường. Xét về mặt nào đó, đêm nhạc chưa thực sự chuyên nghiệp dù quy tụ nhiều anh tài, những ca sĩ gắn bó với Đỗ Bảo như Khánh Linh, Ngọc Anh, Tấn Minh, Mai Trang,... Nhưng dù sao thành công của nó là đã khơi dậy trong tôi những "dư âm của thời gian".
Tôi nghe nhạc Đỗ Bảo từ rất lâu rồi, cho đến bây giờ nhạc của anh vẫn làm tôi rung động. Chị Khánh Linh đã từng nói: "Ai nghe nhạc Đỗ Bảo đều soi thấy mình trong từng lời hát". Tôi vốn là người "niềm tin ta dễ thay, niềm vui dễ vay", nhưng hôm nay, chưa bao giờ có nhiều kí ức lại ùa về như thế . Tôi thấy cả ấu thơ, tuổi trẻ, niềm vui và nỗi buồn của mình ở đó, những điều tôi đã chạy trốn suốt một thời gian dài...
"Mãi là dư âm đẹp nhất của thời gian.
Em yêu cánh buồm cổ tích mang hình bóng anh"[Cánh buồm đỏ thắm].
Tuổi thơ tôi chìm trong những câu chuyện cổ tích. Từ truyện cô Tấm mà bà nội kể đi kể lại, truyện Con chim lửa mà chưa bao giờ chị đủ kiên nhẫn kể đến đoạn kết, cho đến chuyện ngày xưa của mẹ cũng hóa thành cổ tích trong mắt tôi. Ngày xưa với tôi cổ tích thật đẹp. Tôi nhớ mỗi lần đi ngủ là lại nhắm mắt cầu nguyện cho tối nay mình được mơ đến hoàng tử. Càng lớn tôi càng đọc nhiều hơn, nhưng cũng vì thế tôi bắt đầu để ý kĩ hơn, tôi thấy những nàng công chúa không còn thánh thiện hoàn toàn và đằng sau thân hình xấu xí của mụ phù thủy cũng có những điều đáng quý. "Cánh buồm đỏ thắm" là câu chuyện đầu tiên dạy tôi về tình yêu thực sự - cho dù ở thời đại bây giờ, tình yêu kiểu đó không tồn tại lâu. Đến bây giờ dư âm của nó vẫn khiến tôi mê mẩn... Nhưng cuộc sống đâu có đơn giản như vậy... Năm 16 tuổi, tôi đã biết vấn vương.
"Thủa còn nhiều ngày thơ
Thủa khao khát dại khờ
Thủa vừa biết đôi nắng
Phút nhớ nhung dịu dàng nồng say..."[Chìm trong muôn thưở]
Tôi ngược đường, ngược sáng để thích anh. Anh bảo rằng chuyện chúng tôi tựa như một vở bi kịch tình yêu mà hồi kết của nó đến quá nhanh. Chúng tôi cảm thấy bình yên khi ngồi cạnh nhau. Ohayo Cafe, ban đầu chúng tôi đến đó để gặp gỡ trò chuyện, chơi cờ Othello, rồi sau đó, chúng tôi hẹn nhau đến đấy, mỗi người một việc, chỉ đơn giản là thích Othello và thích ngồi cùng nhau, để rồi... Nơi đó chính là chứng nhân cho vở bi kịch của tôi và anh, là chứng nhân cho những câu chuyện không đầu không cuối, những tiếng cười đùa không dứt, những cái nắm tay ngọt ngào và cả những giọt nước mắt chia ly...
Dưới đêm mưa những ngón tay ngại ngùng
rồi cũng xiết lấy nhau
nhìn trong mắt sâu đêm tương lại mịt mùng
[Cầu vồng đêm mưa]
Dù biết anh không chỉ có mình tôi, tôi chỉ là "người lấp kín khoảng trống đơn côi", tôi vẫn thích anh thật nhiều. Tình yêu đã khiến tôi trở thành kẻ thứ ba đáng ghét. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu sao mình có thể làm được những điều đó - điều hoang đường nhất...
Điều hoang đường nhất,
Là tình yêu em dành cho anh.
Đã lâu rồi, xa rồi,
Vẫn còn ánh lửa chưa dứt gọi mời.
Ngày đó vội vàng rồi chóng qua,
Anh là người chóng quên.
Em như đứa trẻ thơ,
Tình này chắc nhiều dại khờ.
[Điều hoang đường nhất]
Ngày chia tay, cả hai đều khóc. Anh trách anh, tôi không trách ai cả. Nếu có trách thì trách cả hai chúng tôi đã quá mềm lòng... Tuy vậy , dư âm vẫn bám riết lấy tôi rất lâu sau đó, chúng tôi vẫn gặp gỡ, vẫn trò chuyện, vẫn nhắc đến chuyện cũ. Một ngày nọ, tôi quyết định một điều sẽ tốt cho cả tôi và anh: Tôi buông anh ra thôi, trả anh về với cuộc sống của anh trước khi gặp tôi.
Về trong, những đêm dài,
Để khóc cho cuộc tình không may[...]
Chờ vết thương kia sẽ mau lành.
Hạnh phúc kia rồi sẽ mau thành.
[Điều hoang đường nhất]
Hôm qua tôi gặp anh cũng ở Music Nite ấy. Anh đã khác xưa, nhiều lắm. Phải, thời gian mà, có chịu buông tha ai đâu. Con vịt xấu xí ngày nào đã trở thành một thiếu nữ xinh xắn. Còn anh thì để râu giống Leo DiCaprio, điều anh không thể làm hồi tôi còn bên anh. Anh vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến của một thời mê say, còn tôi không dám nhìn vào ánh mắt đó, tôi sợ bắt gặp những kỷ niệm của một thời đã xa.
Kỷ niệm về anh luôn luôn khác biệt giữa muôn kỷ niệm. Và tôi sẽ vẫn nhớ bài hát đầu tiên anh dành cho tôi, bản tình ca đầu cũng là cuối.
Và anh sẽ là người đàn ông của đời em
Anh đã mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ
[Bức thư tình đầu tiên]
Ngôi nhà đấy không dành cho em, anh ạ =) Mấy tháng sau đó, một người khác hát lại cho tôi nghe bài này. (Đến bây giờ ngoài anh Tấn Minh ra chắc tôi không dám nghe ai hát cho tôi nữa đâu). Lại là một điều hoang đường khác. Có thật nhiều mối ràng buộc giữa tôi và người đó.
Đã hết rồi những đam mê ngày xưa
Sao anh không trở lại anh ngày xưa ấy ?
Sao em không mừng vui mùa quả chín ?
Tiếc nhiều đã muộn rồi !
[Kỷ niệm]
Đến bây giờ tôi vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời cho mình: "Em là gì giữa bề bộn đời anh?" Tôi đã từng là gì với anh nhỉ? Anh đã bao giờ thực sự nghĩ đến tôi, thực sự thích tôi như anh đã nói? Nếu như có thì tại sao anh lại đối xử với tôi như vậy?
Thương ai mê mải, đường qua quên mau những mối tình riêng
Còn tôi đơn sơ, còn những sớm tinh mơ
Chỉ là thế, có khi nào (bao giờ) em nghe tôi nói
Mà tình yêu, một câu trả lời khó khăn
[Câu trả lời]
Tôi miệt mài đi tìm câu trả lời để thỏa mãn riêng mình. Đôi lúc tôi vờ như nó thật đẹp để tôi được chìm đắm trong hạnh phúc phút chốc, để rồi lại trở về thực tại.
Mệt nhoài tình xưa, khi đã ra đi không sao trở lại
Mặc ta gắng xoay tình ấy bao lần
[Những ô màu khối lập phương]
Người hỡi cho tôi quên đi, bao nhiêu kỷ niệm xa xưa
Người hỡi cho tôi quên đi, bao nhiêu mộng đẹp nên thơ
[Cô đơn- Nguyễn Ánh 9]
Tôi tự nhận mình là người đa tình và dễ thay đổi. Tôi sống cho người khác nhiều. Nhưng tôi không phải là người thiếu lý trí mà ngược lại, lý trí mách bảo tôi điều đó. Con người sinh ra là để đối diện với cuộc sống, dù nó có khó khăn ra sao. Từ bé đến giờ, ở trong lĩnh vực nào đi nữa, những lựa chọn của tôi đều là những con đường mạo hiểm và khó khăn nhất, ít người muốn lựa chọn. Có một điều tôi tự hào là mình chẳng bao giờ bị quật ngã bởi điều gì, ngã rồi lại phủi gối đứng dậy, mặc cho mình mang đầy vết xước rớm máu. Không đi thẳng được thì bò, thì lết, thì tập tễnh, nhưng nhất định phải bước tiếp. Bởi vậy cho dù đôi lúc con đường tôi chọn mang đến kết cục không đẹp thì tôi vẫn tiếp tục bước đi, tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, tìm kiếm một người dành cho tôi...
Có thể tôi là người đa tình thật, nhưng tôi chưa hề lừa dối ai, và tôi sống như ngọn lửa...
Lửa là thế, khát khao khoác lên cho mình ánh sáng.
Lửa là em, tháng năm ấp ôm mối tình trong sáng.
Chắt chiu từng niềm hạnh phúc ấm áp mỗi khi bên nhau.
Ấp ôm từng niềm nhung nhớ thiêu đốt mỗi khi xa lìa.
[Bức thư tình thứ 3]
Giờ đây tôi đang sống trong hạnh phúc - thứ hạnh phúc vốn mong manh và chẳng biết sẽ kéo dài bao lâu. Tôi sợ khi phải nghĩ đến tương lai, tôi trốn tránh khi nhìn lại quá khứ. Tôi giờ đây sống cho riêng tôi, sống cho hiện tại, sống trong tình yêu. Buồn đau ư? Tôi đã quá quen với nó. Xa cách ư? Điều đó chẳng làm tôi chết được. Giờ đây tôi có thể nói: "Em yêu anh" mà chẳng cần phải lén lút hay ngập ngừng. Đó là người tôi yêu, không chắc là mãi mãi, nhưng là người tôi muốn yêu dài lâu...Phải làm gì để tình yêu mãi mãi
Mãi yên bình như eo biển nơi đây?
[Thủy Chung]
Sống thôi!
Nhiều khi em muốn chào ra đi thật xa lắng lo mỗi ngày
Chào những nghĩ suy gọi tên ta ngược xuôi chuyến xe cuộc đời
[Thời gian để yêu]
Music NIte st được một bài cảm nhận thật hay của một bạn yêu nhạc Đỗ Bảo. Bài viết buồn buồn...man mác những lời tâm sự của tác giả mà dường như âm nhạc của Đỗ Bảo gắn liền với những thăng trầm của đời sống tình cảm ấy. Cám ơn bạn HNT- tác giả bài viết.
Tôi nghe nhạc Đỗ Bảo từ rất lâu rồi, cho đến bây giờ nhạc của anh vẫn làm tôi rung động. Chị Khánh Linh đã từng nói: "Ai nghe nhạc Đỗ Bảo đều soi thấy mình trong từng lời hát". Tôi vốn là người "niềm tin ta dễ thay, niềm vui dễ vay", nhưng hôm nay, chưa bao giờ có nhiều kí ức lại ùa về như thế . Tôi thấy cả ấu thơ, tuổi trẻ, niềm vui và nỗi buồn của mình ở đó, những điều tôi đã chạy trốn suốt một thời gian dài...
"Mãi là dư âm đẹp nhất của thời gian.
Em yêu cánh buồm cổ tích mang hình bóng anh"[Cánh buồm đỏ thắm].
Tuổi thơ tôi chìm trong những câu chuyện cổ tích. Từ truyện cô Tấm mà bà nội kể đi kể lại, truyện Con chim lửa mà chưa bao giờ chị đủ kiên nhẫn kể đến đoạn kết, cho đến chuyện ngày xưa của mẹ cũng hóa thành cổ tích trong mắt tôi. Ngày xưa với tôi cổ tích thật đẹp. Tôi nhớ mỗi lần đi ngủ là lại nhắm mắt cầu nguyện cho tối nay mình được mơ đến hoàng tử. Càng lớn tôi càng đọc nhiều hơn, nhưng cũng vì thế tôi bắt đầu để ý kĩ hơn, tôi thấy những nàng công chúa không còn thánh thiện hoàn toàn và đằng sau thân hình xấu xí của mụ phù thủy cũng có những điều đáng quý. "Cánh buồm đỏ thắm" là câu chuyện đầu tiên dạy tôi về tình yêu thực sự - cho dù ở thời đại bây giờ, tình yêu kiểu đó không tồn tại lâu. Đến bây giờ dư âm của nó vẫn khiến tôi mê mẩn... Nhưng cuộc sống đâu có đơn giản như vậy... Năm 16 tuổi, tôi đã biết vấn vương.
"Thủa còn nhiều ngày thơ
Thủa khao khát dại khờ
Thủa vừa biết đôi nắng
Phút nhớ nhung dịu dàng nồng say..."[Chìm trong muôn thưở]
Tôi ngược đường, ngược sáng để thích anh. Anh bảo rằng chuyện chúng tôi tựa như một vở bi kịch tình yêu mà hồi kết của nó đến quá nhanh. Chúng tôi cảm thấy bình yên khi ngồi cạnh nhau. Ohayo Cafe, ban đầu chúng tôi đến đó để gặp gỡ trò chuyện, chơi cờ Othello, rồi sau đó, chúng tôi hẹn nhau đến đấy, mỗi người một việc, chỉ đơn giản là thích Othello và thích ngồi cùng nhau, để rồi... Nơi đó chính là chứng nhân cho vở bi kịch của tôi và anh, là chứng nhân cho những câu chuyện không đầu không cuối, những tiếng cười đùa không dứt, những cái nắm tay ngọt ngào và cả những giọt nước mắt chia ly...
Dưới đêm mưa những ngón tay ngại ngùng
rồi cũng xiết lấy nhau
nhìn trong mắt sâu đêm tương lại mịt mùng
[Cầu vồng đêm mưa]
Dù biết anh không chỉ có mình tôi, tôi chỉ là "người lấp kín khoảng trống đơn côi", tôi vẫn thích anh thật nhiều. Tình yêu đã khiến tôi trở thành kẻ thứ ba đáng ghét. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu sao mình có thể làm được những điều đó - điều hoang đường nhất...
Điều hoang đường nhất,
Là tình yêu em dành cho anh.
Đã lâu rồi, xa rồi,
Vẫn còn ánh lửa chưa dứt gọi mời.
Ngày đó vội vàng rồi chóng qua,
Anh là người chóng quên.
Em như đứa trẻ thơ,
Tình này chắc nhiều dại khờ.
[Điều hoang đường nhất]
Ngày chia tay, cả hai đều khóc. Anh trách anh, tôi không trách ai cả. Nếu có trách thì trách cả hai chúng tôi đã quá mềm lòng... Tuy vậy , dư âm vẫn bám riết lấy tôi rất lâu sau đó, chúng tôi vẫn gặp gỡ, vẫn trò chuyện, vẫn nhắc đến chuyện cũ. Một ngày nọ, tôi quyết định một điều sẽ tốt cho cả tôi và anh: Tôi buông anh ra thôi, trả anh về với cuộc sống của anh trước khi gặp tôi.
Về trong, những đêm dài,
Để khóc cho cuộc tình không may[...]
Chờ vết thương kia sẽ mau lành.
Hạnh phúc kia rồi sẽ mau thành.
[Điều hoang đường nhất]
Hôm qua tôi gặp anh cũng ở Music Nite ấy. Anh đã khác xưa, nhiều lắm. Phải, thời gian mà, có chịu buông tha ai đâu. Con vịt xấu xí ngày nào đã trở thành một thiếu nữ xinh xắn. Còn anh thì để râu giống Leo DiCaprio, điều anh không thể làm hồi tôi còn bên anh. Anh vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến của một thời mê say, còn tôi không dám nhìn vào ánh mắt đó, tôi sợ bắt gặp những kỷ niệm của một thời đã xa.
Kỷ niệm về anh luôn luôn khác biệt giữa muôn kỷ niệm. Và tôi sẽ vẫn nhớ bài hát đầu tiên anh dành cho tôi, bản tình ca đầu cũng là cuối.
Và anh sẽ là người đàn ông của đời em
Anh đã mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ
[Bức thư tình đầu tiên]
Ngôi nhà đấy không dành cho em, anh ạ =) Mấy tháng sau đó, một người khác hát lại cho tôi nghe bài này. (Đến bây giờ ngoài anh Tấn Minh ra chắc tôi không dám nghe ai hát cho tôi nữa đâu). Lại là một điều hoang đường khác. Có thật nhiều mối ràng buộc giữa tôi và người đó.
Đã hết rồi những đam mê ngày xưa
Sao anh không trở lại anh ngày xưa ấy ?
Sao em không mừng vui mùa quả chín ?
Tiếc nhiều đã muộn rồi !
[Kỷ niệm]
Đến bây giờ tôi vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời cho mình: "Em là gì giữa bề bộn đời anh?" Tôi đã từng là gì với anh nhỉ? Anh đã bao giờ thực sự nghĩ đến tôi, thực sự thích tôi như anh đã nói? Nếu như có thì tại sao anh lại đối xử với tôi như vậy?
Thương ai mê mải, đường qua quên mau những mối tình riêng
Còn tôi đơn sơ, còn những sớm tinh mơ
Chỉ là thế, có khi nào (bao giờ) em nghe tôi nói
Mà tình yêu, một câu trả lời khó khăn
[Câu trả lời]
Tôi miệt mài đi tìm câu trả lời để thỏa mãn riêng mình. Đôi lúc tôi vờ như nó thật đẹp để tôi được chìm đắm trong hạnh phúc phút chốc, để rồi lại trở về thực tại.
Mệt nhoài tình xưa, khi đã ra đi không sao trở lại
Mặc ta gắng xoay tình ấy bao lần
[Những ô màu khối lập phương]
Người hỡi cho tôi quên đi, bao nhiêu kỷ niệm xa xưa
Người hỡi cho tôi quên đi, bao nhiêu mộng đẹp nên thơ
[Cô đơn- Nguyễn Ánh 9]
Tôi tự nhận mình là người đa tình và dễ thay đổi. Tôi sống cho người khác nhiều. Nhưng tôi không phải là người thiếu lý trí mà ngược lại, lý trí mách bảo tôi điều đó. Con người sinh ra là để đối diện với cuộc sống, dù nó có khó khăn ra sao. Từ bé đến giờ, ở trong lĩnh vực nào đi nữa, những lựa chọn của tôi đều là những con đường mạo hiểm và khó khăn nhất, ít người muốn lựa chọn. Có một điều tôi tự hào là mình chẳng bao giờ bị quật ngã bởi điều gì, ngã rồi lại phủi gối đứng dậy, mặc cho mình mang đầy vết xước rớm máu. Không đi thẳng được thì bò, thì lết, thì tập tễnh, nhưng nhất định phải bước tiếp. Bởi vậy cho dù đôi lúc con đường tôi chọn mang đến kết cục không đẹp thì tôi vẫn tiếp tục bước đi, tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, tìm kiếm một người dành cho tôi...
Có thể tôi là người đa tình thật, nhưng tôi chưa hề lừa dối ai, và tôi sống như ngọn lửa...
Lửa là thế, khát khao khoác lên cho mình ánh sáng.
Lửa là em, tháng năm ấp ôm mối tình trong sáng.
Chắt chiu từng niềm hạnh phúc ấm áp mỗi khi bên nhau.
Ấp ôm từng niềm nhung nhớ thiêu đốt mỗi khi xa lìa.
[Bức thư tình thứ 3]
Giờ đây tôi đang sống trong hạnh phúc - thứ hạnh phúc vốn mong manh và chẳng biết sẽ kéo dài bao lâu. Tôi sợ khi phải nghĩ đến tương lai, tôi trốn tránh khi nhìn lại quá khứ. Tôi giờ đây sống cho riêng tôi, sống cho hiện tại, sống trong tình yêu. Buồn đau ư? Tôi đã quá quen với nó. Xa cách ư? Điều đó chẳng làm tôi chết được. Giờ đây tôi có thể nói: "Em yêu anh" mà chẳng cần phải lén lút hay ngập ngừng. Đó là người tôi yêu, không chắc là mãi mãi, nhưng là người tôi muốn yêu dài lâu...Phải làm gì để tình yêu mãi mãi
Mãi yên bình như eo biển nơi đây?
[Thủy Chung]
Sống thôi!
Nhiều khi em muốn chào ra đi thật xa lắng lo mỗi ngày
Chào những nghĩ suy gọi tên ta ngược xuôi chuyến xe cuộc đời
[Thời gian để yêu]
Music NIte st được một bài cảm nhận thật hay của một bạn yêu nhạc Đỗ Bảo. Bài viết buồn buồn...man mác những lời tâm sự của tác giả mà dường như âm nhạc của Đỗ Bảo gắn liền với những thăng trầm của đời sống tình cảm ấy. Cám ơn bạn HNT- tác giả bài viết.
Theo FB MusicNite Show
NSUT Thu Hà
|
Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010
|
0 comments
Học viên Trường Đại học văn hóa nghệ thuật quân đội trong Vietnam Idol nè.
Văn Mai Hương là một cô bé có tài với tuổi đời khá trẻ, dù đạt quán quân hay á quân, với em đã là thành công lớn, Chúc em thành công trong con đường âm nhạc...
<object width="480" height="385"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/7uKAI9SWsx8?fs=1&hl=en_US"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><param name="allowscriptaccess" value="always"></param><embed src="http://www.youtube.com/v/7uKAI9SWsx8?fs=1&hl=en_US" type="application/x-shockwave-flash" allowscriptaccess="always" allowfullscreen="true" width="480" height="385"></embed></object>
NSUT Thu Hà
|
|
0 comments
Hand in Hand

Cô gái chỉ có một tay.
Chàng trai chỉ có một chân.
Họ có thêm một cái nạng.
Để trình diễn một vũ điệu tuyệt vời.
Vũ điệu ấy chỉ có thể gọi là "Sức mạnh tình yêu"
Chàng trai chỉ có một chân.
Họ có thêm một cái nạng.
Để trình diễn một vũ điệu tuyệt vời.
Vũ điệu ấy chỉ có thể gọi là "Sức mạnh tình yêu"
Cuối tháng 4-2007, kênh CCTV9 - Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) phát đi bản tin tác phẩm múa Tay trong tay đã thu phục hoàn toàn khán giả của cuộc thi múa toàn quốc lần 4 do CCTV tổ chức. Không chỉ chinh phục những khán giả của CCTV hay YouTube, các blog cá nhân từ nhiều nước trên thế giới đang giới thiệu tác phẩm múa Tay trong tay. Nhiều người đã khóc khi xem họ biểu diễn, kể cả trên sân khấu và qua màn hình bé chỉ bằng lòng bàn tay của những trang web.

Mã Lệ
Hai người trong điệu múa là Trạch Hiếu Vĩ bị cụt mất chân trái từ năm lên bốn tuổi trong một tai nạn; và Mã Lệ, bị cắt tay phải sau một tai nạn giao thông năm 19 tuổi. Bằng những nỗ lực không thể tin nổi, họ đã sát cánh cùng nhau dựng nên tác phẩm múa tình cảm, mạnh mẽ và chân thành đến rơi nước mắt.
Mỗi người một cảnhTrước năm 2005, Mã Lệ và Trạch Hiếu Vĩ chưa hề quen biết nhau, nhưng đã cùng trải qua những mất mát. Mã Lệ học múa từ năm 7 tuổi. 18 tuổi, cô tốt nghiệp loại ưu Trường nghệ thuật Mã Điếm, tỉnh Hà Nam và được nhận vào Đoàn nghệ thuật Thanh Đảo. Một năm sau cô gặp tai nạn, cánh tay phải bị dập nát, phải cắt bỏ. Bao nhiêu mơ ước tan thành mây khói. Cô rời đoàn nghệ thuật, suy sụp tinh thần.
Năm 2001, trước vài ngày diễn ra hội diễn nghệ thuật múa người khuyết tật của tỉnh Hà Nam, một nhân viên trong hội đã tìm đến Mã Lệ đề nghị cô tham dự hội diễn. Mã Lệ từ chối, nhưng rồi sau khi được thuyết phục nhiều lần, cô đến thăm hội khuyết tật và nhận ra nhiều người khuyết tật nặng hơn cô mà vẫn say mê chơi đùa, luyện tập. Mã Lệ đã đồng ý tham dự hội diễn và giành được giải vàng với tiết mục múa Cô gái Hoàng Hà, vì vậy, cô được mời tham gia liên hoan múa toàn quốc ở Bắc Kinh.Còn Trạch Hiếu Vĩ sinh ra ở một thành phố hẻo lánh của tỉnh Hà Nam. Năm bốn tuổi, Vĩ theo mấy người lớn đến bên một chiếc máy nghiền đá, không may bị lọt chân vào khe máy đúng lúc máy chuyển động. Chân trái của anh bị dập nát và buộc phải cắt bỏ đến tận đùi. Sau khi tốt nghiệp bậc sơ trung học, Trạch Hiếu Vĩ xin được một chỗ làm cho một gia đình làm nghề đan lưới đánh cá. Năm 2005 anh trở về Hà Nam và trở thành vận động viên khuyết tật môn đua xe lăn.

Sự gặp gỡ của nghệ thuật và ý chí
Mã Lệ gặp Trạch Hiếu Vĩ tình cờ ở một trung tâm phục hồi sức khỏe vào năm 2005. Họ cảm thấy quí mến nhau. Lúc ấy Mã Lệ đang có ý tưởng tìm người múa cùng với mình để dự thi múa toàn quốc. Cô hỏi Trạch Hiếu Vỹ có thích múa không. Anh trả lời thành thật: "Tôi không múa được vì tôi không tự đi được. Tôi cũng không biết rõ là tôi có thích múa hay không". Mã Lệ phải gọi điện thuyết phục nhiều lần Trạch Hiếu Vĩ mới đồng ý.
Cuối năm 2005, họ bắt tay vào luyện tập. Nhưng vì Hiếu Vĩ chưa từng học múa nên Mã Lệ phải hướng dẫn anh từ những động tác đầu tiên. Sự luyện tập căng thẳng chỉ với một chân khiến Vĩ cảm thấy chán nản. Anh đã toan bỏ cuộc nhưng rồi Mã Lệ kiên trì thuyết phục anh rằng làm việc gì cũng phải có quyết tâm cộng với sự kiên trì mới đạt kết quả, Vĩ đồng ý trở lại luyện tập. Họ nhờ một biên đạo múa giúp họ thực hiện ý tưởng. Không có tiền thuê sàn tập, mùa đông họ tập trong nhà, mùa hè họ ra công viên. Có ngày họ tập luyện từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối mới nghỉ.Hết lần này đến lần khác, Vĩ phải đỡ Mã Lệ trên một chân, khó nhất là động tác vừa tiến lên phía trước vừa ôm giữ cô vì toàn bộ sức nặng dồn lên chân anh, sau đó, anh phải thả cô xuống, lo giữ thăng bằng với chiếc nạng chống. Họ làm đi làm lại, vừa làm vừa điều chỉnh cho đến khi cảm thấy hoàn hảo.
Ngày thi đã đến. Họ bước ra sân khấu và múa bằng tất cả tâm hồn mình, không hề nghĩ tới cuộc thi. Tác phẩm Tay trong tay kể lại chính câu chuyện về tình yêu múa của họ. Hai người gặp nhau, có lúc xung đột tới mức chia xa, rồi quay trở về với nhau nồng ấm và quyến luyến hơn trước.
Điều đặc biệt là khi xem họ múa, những khiếm khuyết của cơ thể không còn hiện diện, chỉ còn tình yêu - sự nâng đỡ che chở trên nền nhạc da diết và mạnh mẽ còn đọng lại trong lòng khán giả. Tay trong tay đã làm lu mờ tất cả những tiết mục dự thi khác trong cuộc thi múa toàn quốc.
(Nguồn CCTV - Internet)
Tác phẩm: Hand in hand
Âm nhạc: San Bao
Biên đạo múa: Zhao Limin
Biểu diễn: Mã Lệ (馬麗) và Trạch Hiếu Vĩ (翟孝偉)
Âm nhạc: San Bao
Biên đạo múa: Zhao Limin
Biểu diễn: Mã Lệ (馬麗) và Trạch Hiếu Vĩ (翟孝偉)
<object width="480" height="385"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/LnLVRQCjh8c?fs=1&hl=en_US"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><param name="allowscriptaccess" value="always"></param><embed src="http://www.youtube.com/v/LnLVRQCjh8c?fs=1&hl=en_US" type="application/x-shockwave-flash" allowscriptaccess="always" allowfullscreen="true" width="480" height="385"></embed></object>
More informations in English about Ma Li and Zhai Xiaowei: You can click "more" under "About This Video" in Interview:
PART 1
http://www.youtube.com/watch?v=4UuA7q...
PART 2
http://www.youtube.com/watch?v=I5TxNC...
PART 3
http://www.youtube.com/watch?v=LMY_rJ...
PART 1
http://www.youtube.com/watch?v=4UuA7q...
PART 2
http://www.youtube.com/watch?v=I5TxNC...
PART 3
http://www.youtube.com/watch?v=LMY_rJ...
The girl (Ma, Li) was a beautiful promising professional ballerina when she lost her right arm in a car accident in 1996. She was only 19. Her handsome boy friend walked away from her. She tried to kill herself only to be saved by her parents. Her love for her parents gave her the strength to live. She learned how to live her life independently. She learned how to write Chinese beautifully and how to do many things including combing her hair, which she had to cut short from the waist-length to shoulder-length. She learned to cook and to wash clothes ... In a few months she opened her small bookstore. Five years later in 2001, she was invited to compete at the 5th national special performing art competition for handicaps and won the gold medal. That success gave her the hope to return to her beloved stage. In 2002, a handsome 20-year-old young man (Li, Tao) madly fell in love with her. She ran a way from him for fear of being hurt again. After she disappeared in Beijing, Tao searched her up and down despite his parents' strong objection and ridicule. Five years later in 2001, she was invited to compete at the 5th national special performing art competition for handicaps and won the gold medal. That success gave her the hope to return to her beloved stage. In 2002, a handsome 20-year-old young man (Li, Tao) madly fell in love with her. She ran a way from him for fear of being hurt again. After she disappeared in Beijing, Tao searched her up and down despite his parents' strong objection and ridicule. He finally found her dancing in a bar. They have never been separated since. They were very broke when SARS was spreading because all theaters were closed. In 2004, he got a license to be her legitimate agent and was trying to help her develop a unique performance. In a cold snowy night, when the two huddled in an underpass to wait for the sunrise in order to catch a bus after a long day at a movie shooting site working as extras, she suddenly had the urge to dance in the snow with him. She had used her dance to tell him her story so many times before and this time, after their "dance" ended, he suddenly realized that THIS should be her unique performance. In September 2005, she ran into a 21-year-old young man (Zhai, Xiaowei). He was being trained for the national special to be a cyclist for the national special olympics. He had never danced before. He climbed on a tractor when he was 4 years old and fell off it and lost his left leg. His dad asked him, "The doctor will have to amputate your leg. Are you afraid?" He couldn't comprehend what would be so different so he said no. His dad said, "You are going to face many challenges and difficulties in life, are you afraid?" He asked, "What are 'challenges and difficulties?' Do they taste good?" His dad laughed with tears, "Yes, they're like your favorite candies. You just need to eat them one piece at a time!" (Then his dad ran out of the room in tears.) So he's always very optimistic and athletic with a great sense of humor. He had tried high-jump, long-jump, diving, swimming, and just settled on cycling. His coach believed that he would be able to get 2-3 gold medals in the national special Olympics games. (In the video interview, you can see him doing a bridge with great ease!) He initially didn't understand how he could "dance," so Li invited him to see her performing "Hand in Hand" with another male actor. He felt that he saw a perfect soul dancing on the stage and agreed to give it a try. Li & Tao treated him like their younger brother and they stayed under the same roof during the more than 1 year of intensive training and practice. One would not be able to imagine the kind of challenges and difficulties they faced. He had NO dancing background and she is a perfectionist. There are so many touching stories. Much determination has gone into the making of this performance. Just for that one "drop" move at 3:41 of the clip, he landed her on the hard floor more than 1000 times!!! To get the move right, they started at 8 a.m. and got the first successful move shortly after 8 pm! All they did was to train and to practice from 8 a.m. to 11 p.m. day-in and day-out until the three of them ran out of money in early 2007 ... The rest is history. In April they were one of the finalists among 7000 competitors in the 4th CCTV national dance competition. It is the first time a handicapped couple ever entered the competition. They won the Silver medal with the 99.17 high score and not to mention the highest audience popular votes. They became an instant national
Theo muavietnam
NSUT Thu Hà
|
Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010
|
0 comments











